Skip to main content

(Nguyễn Hoàng Lâm - Chánh án TAND huyện Mỹ Tú): CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH NGOÀI TÒA ÁN: CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT Ở SÓC TRĂNG

(24/02/2020 08:37)

* Đặt vấn đề

Hòa giải cơ sở là truyền thống tốt đẹp, thể hiện nét đẹp văn hóa cộng đồng, tinh thần đoàn kết gắn bó của người Việt Nam chúng ta mỗi khi có mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra. Ông bà ta thường nói “vô phúc đáo tụng đình”. Nghĩa là khi tranh chấp xảy ra mà các bên không thể thương lượng hòa giải được thì mới chọn đến con đường tố tụng tại Tòa án. Bởi vì, việc yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp rất tốn kém, cả về chi phí lẫn thời gian. Do đó, hòa giải cơ sở không chỉ đơn thuần là một hoạt động hỗ trợ giúp cho việc giảm tải khối lượng giải quyết tranh chấp tại Toà án nhân dân mà còn góp phần tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức cho các bên liên quan và Nhà nước; hạn chế được tình trạng các tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân. Xuất phát từ ý nghĩa trên mà Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) có hiệu lực ngày 01-7-2016, đã bổ sung một chương (Chương XXXIII, từ điều 416 đến điều 419) quy định về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, đây là quy định mới so với BLTTDS 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011). Với việc BLTTDS 2015 ghi nhận Tòa án có thẩm quyền công nhận hòa giải thành ở cấp cơ sở theo thủ tục việc dân sự đã tạo ra cơ sở pháp lý để Tòa án tiến hành giải quyết yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án của đương sự được thuận lợi, chính xác, nhanh chóng và kịp thời bảo vệ được quyền và lợi ích của các đương sự.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến cơ sở pháp lý cũng như thực trạng giải quyết các yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án kể từ khi BLTTDS 2015 có hiệu lực cho đến nay trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.

1. Cơ sở pháp lý của việc công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án

a) Khái niệm:

Kết quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải1.

Như vậy, tất cả những vụ việc dân sự đã được hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải (như kết quả hòa giải theo quy định của Luật hòa giải cơ sở, Bộ luật lao động, Luật thương mại, Luật đất đai, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng…) nếu muốn được Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành thì người yêu cầu làm đơn yêu cầu gửi Tòa án có thẩm quyền xem xét công nhận. Chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành là các bên có quyền và lợi ích liên quan đến kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án.

b) Điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án:

Điều 417 BLTTDS 2015 quy định:

1. Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

2. Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý.

3. Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận.

4. Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

Như vậy, để được Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thì cần phải đáp ứng đầy đủ 04 điều kiện:

- Thứ nhất, các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Điều 20 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên (người thành niên), trừ trường hợp là người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi2.

Thứ hai, các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý.

- Thứ ba, nội dung thỏa thuận hòa giải thành là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

Thế nào là điều cấm của luật? Thế nào là đạo đức xã hội? Điều 123 Bộ luật dân sự 2015 có định nghĩa: Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định, còn đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Thứ tư, một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở. Theo Điều 418 BLTTDS 2015, đơn yêu cầu phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

+ Các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, e và g khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này3;

+ Tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức đã tiến hành hòa giải;

+ Nội dung, thỏa thuận hòa giải thành yêu cầu Tòa án công nhận.

Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày các bên đạt được thỏa thuận hòa giải thành, người yêu cầu công nhận phải gửi đơn đến Tòa án; kèm theo đơn yêu cầu phải có văn bản về kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật có liên quan.

c) Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án:

- Trước hết là nộp đơn yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án. Người có yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án có thể lựa chọn hình thức nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc qua bưu điện hoặc gửi trực tuyến. Sau khi tiếp nhận đơn thì Tòa án phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu và tài liệu chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu.Trường hợp đơn yêu cầu chưa ghi đầy đủ nội dung theo quy định thì Thẩm phán yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Nếu người yêu cầu thực hiện đầy đủ thì Thẩm phán tiến hành thủ tục thụ lý việc dân sự. Nếu quá thời hạn mà người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung thì Tòa án trả lại đơn yêu cầu và tài liệu chứng cứ kèm theo cho họ.

- Sau khi tiếp nhận đơn yêu cầu, nếu đủ điều kiện thụ lý, Thẩm phán phải ra thông báo về việc nộp lệ phí. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người có yêu cầu phải tiến hành việc nộp lệ phí, trừ trường hợp người có yêu cầu là người được miễn hoặc không phải nộp theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí.

- Tiếp theo Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Khi người yêu cầu nộp biên lai thu tiền lệ phí đến Tòa án, Tòa án sẽ thụ lý đơn.Trường hợp người yêu cầu được miễn hoặc không phải nộp lệ phí thì Thẩm phán thụ lý kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu.

- Thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc xét đơn yêu cầu, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu.

- Sau đó là mở phiên họp xét đơn yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý; hết thời hạn này, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp. Thời hạn mở phiên họp xét đơn yêu cầu là 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở phiên họp.

- Và cuối cùng là ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành. Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án khi có đủ các điều kiện được quy định tại Điều 417 BLTTDS 2015 nêu trên. Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên, quyết định công nhận này có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của BLTTDS 2015. Kết quả hòa giải ngoài Tòa án được Tòa án ra quyết định công nhận sẽ được cơ quan thi hành án dân sự thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

2. Thực trạng giải quyết yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án ở Sóc Trăng

Kể từ khi BLTTDS 2015 có hiệu lực thi hành cho đến nay, Tòa án nhân dân 02 cấp trong tỉnh Sóc Trăng chưa thụ lý, giải quyết việc nào về yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án. Chúng tôi biết được có khoảng 80% các tranh chấp, mâu thuẫn trong nhân dân được hòa giải thành ở cơ sở, nhưng không một ai trong số họ yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở. Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy có một số nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án là quy định mới trong BLTTDS 2015. Tuy nhiên, các hòa giải viên cơ sở chưa được tập huấn kịp thời, đầy đủ và chuyên sâu, từ đó họ không nắm được trình tự, thủ tục nên trong quá trình hòa giải cơ sở họ không giải thích cho các bên tranh chấp biết quyền được yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án.

Thứ hai, khoản 2 Điều 418 BLTTDS 2015 có quy định kèm theo đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thì người yêu cầu phải gửi văn bản về kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật có liên quan. Vấn đề này tại Công văn số 1503/BTP-PBGDPL ngày 05-5-2017 của Bộ Tư pháp, về việc hướng dẫn thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở có hướng dẫn:

Văn bản về kết quả hòa giải thành do hòa giải viên ở cơ sở lập theo quy định tại khoản 4 Điều 21 và khoản 2 Điều 24 Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013.

Văn bản hòa giải thành gồm các nội dung chính sau đây:

- Căn cứ tiến hành hòa giải;

- Thông tin cơ bản về các bên;

- Nội dung chủ yếu của vụ, việc;

- Diễn biến của quá trình hòa giải;

- Thỏa thuận đạt được và giải pháp thực hiện;

- Quyền và nghĩa vụ của các bên;

- Phương thức, thời hạn thực hiện thỏa thuận;

- Chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và của hòa giải viên.

Tuy nhiên, các biên bản hòa giải thành ở cơ sở đều không đáp ứng đầy đủ các nội dung nêu trên, đặc biệt là những thỏa thuận đạt được, giải pháp thực hiện, quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như phương thức, thời hạn thực hiện thỏa thuận nên rất khó để Tòa án ra quyết định công nhận thỏa thuận.Thứ ba, một trong những điều kiện để được công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án là các bên tham gia thỏa thuận hòa giải phải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Nghiên cứu các biên bản hòa giải thành ở cơ sở, chúng tôi thấy rằng có nhiều trường hợp người tham gia hòa giải lại không có quyền và nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Chẳng hạn, người con vay tiền sau đó không trả tiền vay theo thỏa thuận nên người cho vay mới yêu cầu Tổ hòa giải cơ sở hòa giải. Tổ hòa giải mời hai bên lên hòa giải nhưng người con này không đến mà người cha hoặc mẹ của người con này đến (người con không có ủy quyền) và thỏa thuận thời hạn người con trả tiền cho người cho vay. Rõ ràng, trong trưởng hợp này nếu người cho vay có yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành này thì sẽ không đảm bảo được điều kiện nêu trên.

3. Đề xuất, kiến nghị

Từ thực trạng và các nguyên nhân nêu trên, chúng tôi xin đề xuất, kiến nghị một số giải pháp sau đây để nhằm đảm bảo việc công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng đạt được hiệu quả cao trong thời gian tới:

- Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp phối hợp với Tòa án nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân huyện tổ chức tập huấn chuyên sâu các quy định của BLTTDS 2015, các hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án cho các hòa giải viên cơ sở hiểu sâu và nắm chắc, để khi hòa giải cơ sở họ giải thích cho các bên tranh chấp biết.

- Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp cần phải thường xuyên tập huấn chuyên sâu về Luật hòa giải cơ sở, Nghị định của Chính phủ, các hướng dẫn của Bộ Tư pháp về hòa giải cơ sở cũng như tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải cơ sở cho Hòa giải viên, đặc biệt là kỹ năng ghi biên bản hòa giải cơ sở phải đảm bảo đúng hướng dẫn.

- Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân, đặc biệt là quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, để người dân hiểu và lựa chọn phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- Tòa án nhân dân 02 cấp trong tỉnh cần phải công khai, niêm yết đầy đủ các hướng dẫn cũng như thủ tục liên quan đến yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án để người dân biết và thực hiện khi có yêu cầu.

Chúng tôi hy vọng rằng trong thời gian tới, hòa giải viên ở cơ sở nhanh chóng nắm bắt và vận dụng hiệu quả quy định này trong quá trình thực hiện hòa giải ở cơ sở, hướng dẫn cụ thể để các bên tranh chấp hiểu và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình./.

----------------

*1 Điều 416 BLTTDS 2015.

*2 Xem các Điều 22, Điều 23 và Điều 24 BLDS 2015.

*3 Khoản 2 Điều 362 BLTTDS 2015 quy định:

Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

b) Tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự;

c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu;

….

đ) Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết việc dân sự đó (nếu có);

e) Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu của mình;

g) Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp tổ chức yêu cầu là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp.


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 20
cdscv