Skip to main content

ThS. Nguyễn Trúc Phương - Tòa Gia đình và Người chưa thành niên TAND tỉnh Sóc Trăng: BÀN VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUYỀN NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

(24/02/2020 14:06)

Trong các vụ án hôn nhân và gia đình, ngoài việc các bên đương sự xin ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung thì tranh chấp quyền nuôi con cũng là dạng tranh chấp trong hầu hết các quan hệ hôn nhân mà Tòa án thụ lý, giải quyết, bởi cả cha và mẹ đều mong muốn là người trực tiếp nuôi dưỡng con mình.

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao trực tiếp cho mẹ nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác”

Theo đó, khi thụ lý các vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về nuôi con, Tòa án phải thực hiện nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các đương sự, tạo điều kiện để cha mẹ tự thỏa thuận việc nuôi con. Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được Tòa án sẽ quyết định việc giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng.

Các căn cứ để Tòa án quyết định giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng gồm:

1. Ưu tiên cho người mẹ trực tiếp nuôi con khi con dưới 36 tháng tuổi

Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nêu trên thì “con dưới 36 tháng tuổi được giao trực tiếp cho mẹ nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác”. Như vậy, đối với con dưới 36 tháng tuổi, luật chỉ dành quyền ưu tiên nuôi con cho người mẹ. Cha chỉ được quyền nuôi con khi được sự đồng ý của người mẹ hoặc chứng minh được người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con.

Trong thực tế xét xử, loại tranh chấp giành quyền nuôi con khi con dưới 36 tháng tuổi ít xảy ra vì trong độ tuổi này con rất cần sự chăm sóc của người mẹ và thực tế cũng khó chứng minh được người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2. Xem xét đến nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên

Xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi, tức trong quá trình phán quyết ai sẽ là người nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải lấy ý kiến trẻ từ đủ 07 tuổi về việc muốn sống với cha hay với mẹ. Khi lấy ý kiến của trẻ phải tuân thủ quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là phải bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của trẻ; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ; đặc biệt, việc lấy ý kiến phải đảm bảo giữ bí mật cá nhân của trẻ. Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân tối cao tại điểm 26 Mục IV cũng hướng dẫn về quy định nêu trên như sau: “Phương pháp lấy ý kiến phải bảo đảm thân thiện với trẻ em. Tuy nhiên, Tòa án phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của người con để quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng”.

Trên thực tế, ý kiến của con thường chỉ mang tính định hướng, tham khảo, là một phần để Tòa án xem xét đi đến quyết định, không có ý nghĩa hoàn toàn quyết định.

3. Xem xét về quyền lợi mọi mặt của con

Khi quyết định việc giao con, Tòa án quyết định trên cơ sở đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, các điều kiện cần phải xem xét như:

- Điều kiện kinh tế của cha và mẹ: để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho con cần phải có tài chính. Pháp luật không bắt buộc người trực tiếp nuôi dưỡng con chung phải có khả năng tài chính tốt, cho con cuộc sống chất lượng cao, hiện đại, mà chỉ đặt ra yêu cầu cha, mẹ phải đảm bảo được mức sống tối thiểu cho con. Mức sống tối thiểu được xác định là những nhu cầu cần và đủ cho lứa tuổi của con, ví dụ như ăn, uống, vui chơi, học tập. Cha, mẹ phải đáp ứng được tối thiểu những nhu cầu này và đảm bảo cho các nhu cầu của con. Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh khả năng tài chính của mình, nếu không thể cung cấp được thì trình bày rõ lý do và có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập, xác minh.

- Xem xét đến phẩm chất đạo đức của cha, mẹ: người trực tiếp nuôi dưỡng con phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, bởi điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ về sau. Do vậy, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán cần thu thập, xác minh về hoàn cảnh, nhân thân của người cha, mẹ tại địa phương từ trước đến nay có hành vi bạo hành gia đình; từng có tiền án, tiền sự không; có nằm trong thành phần gây rối trật tự ở địa phương như cờ bạc, rượu chè v.v..hay không?.

- Điều kiện sức khỏe của cha, mẹ: người trực tiếp nuôi dưỡng con phải có sức khỏe đảm bảo cho việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con.

- Điều kiện công việc và thời gian dành cho con: xem xét đến tính chất công việc, thời gian làm việc và thời gian cha, mẹ có thể dành cho con khi trực tiếp nuôi dưỡng con.

- Điều kiện môi trường sống: môi trường sống là yếu tố tác động đến sự phát triển nhân cách của con, cha, mẹ khi giành quyền nuôi con phải đảm bảo được môi trường sống của con để con có sự phát triển lành mạnh.

Ngoài xem xét các điều kiện trên, khi giải quyết Thẩm phán còn phải xem xét các điều kiện phát sinh thực tế khác như: một bên cha hoặc mẹ đã có con riêng khác hay không? Thái độ, tình cảm của cha, mẹ dành cho con như thế nào thông qua việc chăm sóc gần gủi từ khi sinh trẻ ra đến thời điểm phát sinh tranh chấp; tình cảm của trẻ đối với cha mẹ ra sao? v.v..

4. Tham khảo ý kiến của cơ quan nhà nước về gia đình, cơ quan quản nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp

Theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì: Đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên, trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự thì Thẩm phán, Thẩm tra viên được Chánh án Tòa án phân công phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp. Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án”.

Đây là quy định mới so với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, theo đó, khi giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên Thẩm phán hoặc Thẩm tra viên được Chánh án phân công phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp. Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp.

Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân tối cao tại điểm 25 Mục IV cũng hướng dẫn: căn cứ Nghị định số 02/2013/NĐ-CP ngày 03/01/2013 của Chính phủ về công tác về gia đình quy định: “Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác gia đình tại địa phương”, căn cứ Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 thì các cơ quan “Sở Lao động – Thương binh và xã hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà về gia đình, về bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Phòng Lao động – Thương binh và xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về gia đình, về bảo vệ và chăm sóc trẻ em”.

Như vậy, khi giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên nói chung, tranh chấp giành quyền nuôi con sau khi ly hôn nói riêng thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể tham khảo ý kiến của Sở Lao động – Thương binh và xã hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Tòa án nhân dân các huyện, thị xã, thành phố thì tham khảo ý kiến của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin để giải quyết vụ án.

Ngoài ra, tại điểm 25 Mục IV Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC nêu trên cũng hướng dẫn để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp, Tòa án có thể tham khảo ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi vợ, chồng chung sống, nơi con chưa thành niên cư trú”.

Tuy nhiên, ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em nêu trên chỉ mang tính tham khảo, là một phần để Tòa án xem xét đi đến quyết định cũng không có ý nghĩa hoàn toàn quyết định đến việc giải quyết vụ án.

Theo quy định của pháp luật thì quyền nuôi con có thể thay đổi, do vậy, khi xét xử, giải quyết các loại tranh chấp này, Thẩm phán cần giải thích cho các bên đương sự hiểu “nếu cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con, người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con” (quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014) thì các đương sự có thể khởi kiện ra Tòa án yêu cầu thay đổi quyền nuôi con; người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con khi con sống với người còn lại, có nghĩa vụ cấp dưỡng (trừ khi người trực tiếp nuôi dưỡng không yêu cầu) và có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.

Suy cho cùng, trong các vụ án ly hôn, con cái không tránh khỏi ảnh hưởng về tâm lý, nên khi giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên, Thẩm phán cần có thái độ nhẹ nhàng, phân tích và động viên, hàn gắn tình cảm cha mẹ, con cái, lấy con làm cầu nối để đi đến sự thỏa thuận chung như vậy sẽ hạn chế được phần nào sự ảnh hưởng tâm lý của trẻ.


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 41
cdscv