Loading...
Skip to main content

Nguyễn Văn Vinh – TAND tỉnh Sóc Trăng: XỬ LÝ SỐ TIẾN ĐÃ CẤP DƯỠNG TRONG TRƯỜNG HỢP BẢN SƠ THẨM BỊ SỬA ÁN HOẶC BỊ HỦY ÁN ĐỂ XÉT XỬ LẠI

(22/08/2022 14:25)

Khi giải quyết vụ án ly hôn, vấn đề cấp dưỡng luôn được các bên vợ/chồng đề cập đối với người không trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng. Về nguyên tắc, việc cấp dưỡng phải được thực hiện ngay để đảm bảo các điều kiện vật chất và tinh thần tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em là con chung của vợ chồng. Tuy nhiên, trên thực tế thì việc cấp dưỡng sau khi xét xử sơ thẩm đã phát sinh những tồn tại, hạn chế từ việc xử lý số tiền đã cấp dưỡng trong trường hợp bản án sơ thẩm bị hủy, sửa. Những vấn đề này cần sớm được hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật.

  

1. Một số vấn đề liên quan đến việc xử lý số tiền cấp dưỡng khi xét xử phúc thẩm.

Sau khi vụ án được Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên xử, nếu không có kháng cáo, kháng nghị thì bản án có hiệu lực pháp luật. Trường hợp, nếu trong thời hạn kháng cáo và kháng nghị có đương sự kháng cáo1 và Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị2 thì vụ án phải được đưa ra xem xét theo thủ tục phúc thẩm, bản án sơ thẩm không thể được thi hành trong giai đoạn này. Tuy nhiên, trên cơ sở bảo đảm quyền của con sau khi ly hôn, đặc biệt là quyền đối với trẻ em mà Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã có quy định về việc không áp dụng nguyên tắc “thi hành bản án có hiệu lực pháp luật” trong quá trình thi hành bản án, cụ thể là Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về những bản án, quyết định của Tòa án được thi hành, bao gồm: “… 2. Những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị: a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân; quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công”.

Như vậy, sau khi Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên án, nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện khi người trực tiếp nuôi con thực hiện quyền yêu cầu cấp dưỡng ngay cho con mà không cần chờ đợi bản án có hiệu lực pháp luật, điều này được lý giải là do “nếu các đương sự thỏa thuận hoặc được Tòa án xác định là con chung mà người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng thì dù Tòa án có giải quyết các quan hệ khác như thế nào thì quan hệ về cấp dưỡng vẫn được thi hành”.

Ví dụ: Ngày 01-01-2019 Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án như sau: Về hôn nhân quyết định cho anh A và chị B được ly hôn, về tài sản chung: Anh A và chị B mỗi người hưởng chia tài sản khi ly hôn được 1 tỉ đồng, chị B được quyền trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu A1, anh A có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu A1 đến khi cháu A1 được đủ 18 tuổi với mức cấp dưỡng là 10 triệu đồng/tháng (nợ chung, tài sản riêng không yêu cầu Tòa án giải quyết). Ngày 02-01-2019 anh A kháng cáo bản án sơ thẩm vì cho rằng mức cấp dưỡng 10 triệu đồng/tháng là vượt qua khả năng tài chính của anh A. Mặc dù anh A kháng cáo nhưng kể từ ngày 02-01-2019 thì chị B vẫn có quyền yêu cầu thi hành ngay phần quy định về cấp dưỡng nêu trên (trừ tài khoản ngân hàng của anh A tại Vietcombank).

Ở ví dụ này, pháp luật sẽ không phát sinh vướng mắc nếu kết quả giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm là cho anh A và chị B ly hôn và giữ nguyên mức cấp dưỡng (giữ nguyên bản án sơ thẩm)3 hoặc sửa án về phần chia tài sản (hoặc nội dung khác) nhưng vẫn giữ nguyên phần quyết định về cấp dưỡng. Ngoài ra, nếu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án của Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh A/chị B, không cho hai bên được ly hôn thì cũng không ảnh hưởng đến việc cấp dưỡng. Trường hợp khác là đến giai đoạn xét xử phúc thẩm, trước phiên tòa hoặc tại phiên tòa các bên tự nguyện hòa giải đoàn tụ thành, rút đơn khởi kiện và đơn kháng cáo, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ ra Quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án theo Điều 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 . Như vậy, thì việc cấp dưỡng từ khi có bản án sơ thẩm cũng như đến khi có quyết định của Tòa án (các bên trở về đoàn tụ) cũng phải được thực hiện để đảm bảo tính liên tục, chi phí cấp dưỡng cho con không bị đứt quãng. Trường hợp này hiện nay chưa phát sinh vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật.

Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án nào cũng diễn ra theo kết quả là “cấp phúc thẩm giữa nguyên bản án sơ thẩm hay giữ nguyên phần cấp dưỡng của bản án sơ thẩm hoặc theo hướng không chấp nhận ly hôn”, thực tế kết quả sẽ dẫn đến những trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Tòa án cấp sơ thẩm quyết định A phải cấp dưỡng cho A1 với số tiền là 10 triệu đồng/tháng, ngày 02-01-2019 chị B yêu cầu thi hành án ngay và Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền đã thực hiện yêu cầu nêu trên theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố dụng dân sự 2015, bằng biện pháp là trích tài khoản ngân hàng của anh A tại Ngân hàng Vietcomkbank, ngày 01-3-2019, Tòa án cấp phúc thẩm tuyên án, theo hướng: Sửa án sơ thẩm, giảm số tiền cấp dưỡng mà anh A phải thực hiện từ 10 triệu đồng/tháng xuống còn 5 triệu đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng từng tháng đến khi cháu A1 đủ 18 tuổi. Tất nhiên là bản án cũng sẽ tuyên xử bù trừ số tiền 10 đồng đã thực hiện thừa (5 triệu x 2 tháng) để tính vào nghĩa vụ cấp dưỡng chung.

Trường hợp 2: Tòa án cấp phúc thẩm quyết định sửa án sơ thẩm theo hướng không công nhận A1 là con chung của anh A và chị B (A có yêu cầu phản tố nhưng không yêu cầu giám định, nay lên phúc thẩm yêu cầu giám định để yêu cầu không công nhận cha cho con) do kết quả giám định xác nhận A và A1 không có mối quan hệ huyết thống cha - con, từ việc xác định A1 không phải con của A nên sửa án về nghĩa vụ cấp dưỡng theo hướng là A không phải cấp dưỡng cho A1. Vậy thì số tiền mà A đã thực hiện cấp dưỡng trong thời gian 20 triệu đồng (02 tháng x 10 triệu) sẽ được giải quyết như thế nào?

Trường hợp 3: Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm về xét xử lại, sau khi xét xử lại vào ngày 01-6-2019 thì Tòa án cấp sơ thẩm (lần này là giải quyết lần 2) tuyên xử A1 không phải con chung của A nên anh A không phải cấp dưỡng. Bản án này bị chị B kháng cáo, sau này Tòa án cấp phúc thẩm (giải quyết lần 2) xét xử ngày 01-9-2019 và y án sơ thẩm. Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng mà A đã thực hiện trong 09 tháng với số tiền là 90 triệu đồng phải được xử lý. Tuy nhiên, việc xử lý như thế nào thì Tòa án nhân dân tối cao chưa có hướng dẫn cụ thể để Tòa án các địa phương áp dụng.

Như vậy, hiện nay Luật Hôn nhân và gia đình chỉ quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp bản án sơ thẩm được giữ nguyên, các trường hợp bản án sơ thẩm bị hủy, sửa thì Luật Hôn nhân và gia đình, cũng như Bộ luật Tố tụng dân sự không đề cập đến vấn đề này?

2. Xử lý hậu quả số tiền cấp dưỡng khi bản án sơ thẩm bị hủy, sửa

2.1  Nghĩa vụ hoàn trả số tiền cấp dưỡng trong trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định Người có nghĩa vụ cấp dưỡng không phải cấp dưỡng.

Như đã phân tích ở phần trên, hiện nay, có 03 cách hiểu khác nhau về xử lý vấn đề cấp dưỡng sau khi bản án sơ thẩm bị hủy, sửa và thực tiễn tại Tòa án nhân dân địa phương và quan điểm của các Thẩm phán cũng không thống nhất khi “sửa án” theo hướng không buộc A cấp dưỡng hay bản án của Tòa án cấp sơ thẩm bị Tòa án nhân dân tỉnh “hủy án” về để Tòa án nhân dân cấp huyện xét xử lại. Ví dụ: Từ lúc xét xử sơ thẩm ngày 01-01-2019, có kháng cáo cho đến lúc xét xử phúc thẩm là ngày 01-03-2019 là 02 tháng, trong thời gian 02 tháng này thì A vẫn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho A1 như quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng kết quả xét xử phúc thẩm lại ngược lại theo hướng không buộc A có nghĩa vụ cấp dưỡng cho A1. Như vậy, số tiền 20 triệu đồng mà A đã thực hiện xong (trừ tài khoản ngân hàng) thì chị B phải có nghĩa vụ hoàn trả cho anh A là phù hợp. Vấn đề là, nghĩa vụ hoàn trả này được giải quyết trong cùng vụ án hay được giải quyết bằng vụ án “dân sự” khác với mối quan hệ là “Tranh chấp đòi lại tài sản”?

Hiện nay có hai giải pháp để xử lý số tiền 20 triệu đồng cấp dưỡng này như sau:

Phương án 1: Số tiền 20 triệu đồng này có thể được “ưu tiên” giải quyết “trong cùng một vụ án” bằng “bản án phúc thẩm” theo hướng buộc chị B hoàn trả tài sản cho anh A. Vấn đề là Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm có thẩm quyền xử lý hậu quả như đã phân tích nêu trên hay không? Câu trả lời là rất khó áp dụn phương án này. Bởi vì, thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm bị giới hạn theo quy định tại Điều 293 và Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngoài ra, trong vụ án này, anh A khởi kiện chị B để yêu cầu được ly hôn, về mặt nguyên tắc anh A chỉ có thể thay đổi khởi kiện nếu việc thay đổi tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm sẽ được xem xét nếu không vượt quá phạm vi khởi kiện/kháng cáo ban đầu. Tuy nhiên, vụ án này sẽ phát sinh thêm tình tiết, yêu cầu mới là yêu cầu “đòi lại” số tiền 20 triệu đồng “đã buộc phải thi hành án phần cấp dưỡng”. Nếu giải quyết trong cùng vụ án sẽ vi phạm vượt quá khởi kiện ban đầu và vi phạm Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Phương án 2: Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không buộc anh A phải cấp dưỡng cho cháu A1, số tiền mà anh A đã cấp dưỡng trong 02 tháng là 20 triệu đồng sẽ là nghĩa vụ của chị B đối với anh A (trừ trường hợp anh A tự nguyện không nhận lại số tiền này) nếu anh A có yêu cầu thì phải tách riêng ra thành vụ án khác để giải quyết với quan hệ pháp luật là “Tranh chấp đòi lại tài sản” hay “Tranh chấp về cấp dưỡng”. Phương án này sẽ hoàn toàn phù hợp với phạm vi xét xử phúc thẩm và không vi phạm Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

2.2 Nghĩa vụ hoàn trả số tiền cấp dưỡng trong trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy án sơ thẩm mà kết quả xét xử sơ thẩm theo hướng không buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Bên cạnh vấn đề được phân tích như trên, vấn đề cấp dưỡng khi án sơ thẩm bị sửa đã được giải quyết bằng phương án khởi kiện thành vụ án khác. Tuy nhiên, trong trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại thì vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn.

Ví dụ: Sau khi bản án phúc thẩm hủy án sơ thẩm và gửi trả lại hồ sơ, yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án, khắc phục vi phạm về thu thập chứng cứ, thu thập chứng cứ xác minh, khắc phục các vi phạm tố tụng nghiêm trọng vv…. Từ lúc vụ án xét xử sơ thẩm lần đầu là ngày 01-01-2019 đến khi bạn án sơ thẩm bị Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm hủy án (01-03-2019) đến khi xét xử sơ thẩm lại (01-06-2019) là 6 tháng. Thời gian này do Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Hôn nhân và gia đình chưa xác định nghĩa vụ cấp dưỡng có tiếp tục thực hiện đến 01-06-2019 khi xét xử lại thủ tục sơ thẩm thì nghĩa vụ này có tiếp tục thực hiện hay không? Về vấn đề này sẽ xuất hiện hai cách hiểu như sau:

Thứ nhất: Trường hợp hủy án, nghĩa vụ cấp dưỡng phải được tạm dừng thực hiện từ khi có bản án phúc thẩm. Lý do tạm dừng thực hiện là để đảm bảo cho Hội đồng xét xử sơ thẩm đánh giá lại vụ án, xác định A1 có phải con chung của A hay không để từ đó quyết định buộc A cấp dưỡng hay không cấp dưỡng. Thời gian “chờ” từ khi hủy án đến khi xét xử lại phải được tạm dừng việc thi hành án. Theo tác giả thì cách này là hoàn toàn không phù hợp với nguyên tắc bảo vệ trẻ em của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Thứ hai: Tác giả cho rằng, trong trường hợp này, nghĩa vụ cấp dưỡng vẫn phải được tiến hành, nếu A1 không phải con của A thì số tiền đã cấp dưỡng (6 tháng x 10 triệu) 60 triệu đồng sẽ là nghĩa vụ về tài sản của chị B đối với anh A như giải pháp được đưa ra ở phần trên.

2.3 Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật quy định về cấp dưỡng trong trường hợp bản án sơ thẩm, bị hủy sửa.

Như chúng ta đã biết, Luật Hôn nhân và gia đình cùng với các đạo luật khác về quyền của trẻ em và phụ nữ chính là văn bản cụ thể hóa những nguyên tắc của Hiến pháp trong việc giải quyết, đảm bảo quyền lợi của trẻ em, phụ nữ khi ly hôn. Và Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã đảm nhận được vai trò này khi quy định quyền được thi hành án bản án sơ thẩm (mặc dù có thể bị kháng cáo) đối với “cấp dưỡng” trong bản án sơ thẩm. Theo tác giả, Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã tương đối hoàn chỉnh, không cần phải sửa đổi, mà giải pháp có khả năng thực thi nhanh hơn, ưu việt hơn chính là kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn chi tiết thi hành Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự nêu trên.

Từ những vấn đề như đã phân tích nêu trên, người viết đề xuất Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết để hướng dẫn Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 như sau:

“Trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ hoặc chồng đối với con sau khi ly hôn thì số tiền mà vợ hoặc chồng đã thực hiện cấp dưỡng thừa sẽ được khấu trừ vào chi phí cấp dưỡng chung.

Trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc vợ hoặc chồng phải cấp dưỡng cho con chưa thành niên hoặc đã thành niên mà có nhược điểm về thể chất và tinh thần, không có khả năng tự nuôi sống mình thì số tiền mà người vợ hoặc chồng đã thực hiện từ khi có bản án sơ thẩm sẽ được giải quyết trong một vụ án dân sự khác theo thủ tục tố tụng chung.

Trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên xử theo hướng tăng nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ hoặc chồng không trực tiếp nuôi con thì vợ hoặc chồng phải chịu thêm phần nghĩa vụ bổ sung từ khi có bản án sơ thẩm đến khi có bản án phúc thẩm, từ khi có bản án phúc thẩm đến khi kết thúc nghĩa vụ cấp dưỡng thì số tiến được thực hiện theo mức cấp dưỡng chung của Tòa án cấp phúc thẩm”.

3. Kết luận

Với những phân tích và kiến nghị hướng dẫn áp dụng pháp luật nêu trên thì về cơ bản đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi ly hôn, khắc phục các thiếu sót của Bộ luật Tố tụng dân sự cũng như Luật Hôn nhân và gia đình để tăng tính áp dụng vào thực tiễn của các văn bản quy phạm pháp luật này

4. Tài liệu tham khảo

4.1 Văn bản pháp luật

  - Quốc hội (2015), Luật số: 92/2015/QH13 Bộ luật Tố tụng dân sự, ngày 25 tháng 11 năm 2015 (có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2016).

  - Quốc hội (2015), Luật số: 91/2015/QH13 Bộ luật Dân sự, ngày 24 tháng 11 năm 2015 (có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2017).

  - Quốc hội (2014), Luật số: 52/2015/QH13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ngày 19 tháng 06 năm 2014 (ngày 01 tháng 01 năm 2015).

4.2 Trang thông tin điện tử

  - Cổng thông tin điện tử về Công bố bản án của Tòa án nhân dân tối cao tại địa chỉ: http/:congbobanan.toaan.gov.vn

*1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “…1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. …”.

*2 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “…1. Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án...”

*3 Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: “Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sau đây: …1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm;…”


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 118
cdscv