Loading...
Skip to main content

Trần Thị Kim Nhẫn: Bàn về một số trường hợp liên quan yêu cầu khởi kiện chấm dứt quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn trong vụ án hôn nhân và gia đình.

(20/09/2022 05:11)

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Nếu muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng trên thì đến Tòa án có thẩm quyền làm thủ tục ly hôn. Tuy nhiên, thực tế hiện nay có rất nhiều nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Vậy khi muốn chấm dứt quan hệ chung sống trên thì làm thủ tục như thế nào?

Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Liên quan đến yêu cầu khởi kiện chấm dứt quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn trong vụ án hôn nhân và gia đình, qua thực tiễn xét xử tại Tòa án phát sinh một số trường hợp như sau:

Trường hợp thứ nhất, đương sự khởi kiện yêu cầu ly hôn và yêu cầu về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên. Căn cứ khoản 14 Điều 3 và khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án chỉ tiến hành hòa giải về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên. Về quan hệ tình cảm giữa hai bên đương sự thì Tòa án không tiến hành hòa giải nhưng giải thích rõ cho đương sự biết là việc chung sống nhưng không có đăng ký kết hôn giữa họ không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Nếu hai bên đương sự thống nhất và thừa nhận quan hệ của họ không phải là vợ chồng thì Tòa án ghi nhận vào biên bản hòa giải. Khi Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì cũng ghi nhận ý kiến thống nhất của đương sự về việc chung sống với nhau giữa họ không phải là vợ chồng. Nếu sau khi giải thích mà một hoặc hai bên đương sự vẫn có yêu cầu ly hôn thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử và tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng, đồng thời ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên nếu thỏa thuận đó là hợp pháp theo quy định pháp luật.

Trường hợp thứ hai, đương sự khởi kiện yêu cầu ly hôn và về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên không có hoặc không yêu cầu. Thì căn cứ quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 20151, Tòa án không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử và tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng.

Trường hợp thứ ba, đương sự khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và yêu cầu về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình. Tòa án tiến hành hòa giải về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên. Khi Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì cũng ghi nhận ý kiến thống nhất của đương sự về việc chung sống với nhau giữa họ không phải là vợ chồng.

Trường hợp thứ tư, đương sự khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên không có hoặc không yêu cầu. Vậy trường hợp này Tòa án có tổ chức hòa giải và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận như trên của các đương sự hay đưa vụ án ra xét xử và tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng? Thực tiễn giải quyết về trường hợp này hiện có hai quan điểm như sau:

Thứ nhất, yêu cầu khởi kiện không công nhận quan hệ vợ chồng là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Và đương sự tự nguyện thừa nhận việc chung sống với nhau giữa họ không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng, còn về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên không có hoặc không yêu cầu là không trái quy định tại khoản 14 Điều 3, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận trên của đương sự. Tuy nhiên, hiện nay không có mẫu hướng dẫn thống nhất về quyết định công nhận sự thỏa thuận trường hợp này.

Thứ hai, yêu cầu khởi kiện không công nhận quan hệ vợ chồng là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tuy nhiên, bên cạnh yêu cầu khởi kiện không công nhận quan hệ vợ chồng phải phát sinh yêu cầu về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng thì Tòa án mới tổ chức hòa giải về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên theo quy định tại khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình. Từ đó, khi Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì cũng ghi nhận ý kiến thống nhất của đương sự về việc chung sống với nhau giữa họ không phải là vợ chồng. Nên nếu đương sự chỉ khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng thì căn cứ khoản 14 Điều 3, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử và tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng.

Do hiện nay thực tiễn phát sinh rất nhiều trường hợp đương sự yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên không có hoặc không yêu cầu như trên, nhưng chưa được hướng dẫn thống nhất nên các Tòa án còn có quan điểm khác nhau khi thụ lý, giải quyết.

Riêng cá nhân người viết đồng ý kiến với quan điểm thứ nhất. Vì Điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về những vụ án dân sự không được hòa giải trong đó có những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội. Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình quy định trường hợp nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, tức Luật không thừa nhận quan hệ chung sống giữa nam và nữ là vợ chồng mà không có quy định cấm nam, nữ (có đủ điều kiện kết hôn) chung sống với nhau như vợ chồng. Do đó, nếu đương sự khởi kiện yêu cầu ly hôn thì là vi phạm khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình, thuộc trường hợp không được hòa giải theo Điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự. Còn nếu đương sự yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng là không vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình và không thuộc trường hợp không được hòa giải theo Điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, Tòa án vẫn tổ chức hòa giải yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng (về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên không có hoặc không yêu cầu) và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận như trên của các đương sự là hoàn toàn không trái quy định của pháp luật, đảm bảo quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, hiện nay không có mẫu hướng dẫn thống nhất về quyết định công nhận sự thỏa thuận trường hợp này, nên các Tòa án vẫn chưa thống nhất mẫu khi ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.

Trên đây là quan điểm của người viết, rất mong nhận được ý kiến trao đổi của Quý bạn đọc.

*1 Điều 206. Những vụ án dân sự không được hòa giải

1. Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.

2. Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 177
cdscv